Thư viện các giáo viên

Liên kết website

Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Hoàng Phú Đức)
  • (Đoàn Minh Lộc)
  • (Lê Phước Hoà)

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Anh_thuy.jpg ANH_13x18.jpg 354.jpg NGAU_NHIEN_VIET_NHAN_BUOI_MOI_VE_QUE.swf Phim_Ho_Chi_Minh_Chan_dung_mot_con_nguoi.flv Cach_mang_thang_Tam.flv Tiet_1314_lao_hac_ban_cho.flv Tiet_26Phim_Dai_thi_hao_Nguyen_Du.flv Tiet_21_22_CO_BE_BAN_DIEM1.flv Song_chet_mac_bay.jpg Nen.jpg TRUNGTRAC.jpg Bac_o_hang_pac_bo.png Tuc_canh_Pac_Bo.mp3 Dong_suoi_le_nin.jpg

    Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Chào mừng quý vị đến với Thư viện trực tuyến THCS Lao Bảo.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > Bài viết >

    Tham luận ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và dạy học

    THAM LUẬN “ĐẨY MẠNH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TINTRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ, DẠY HỌC”



                                                     Hoàng Phú Đức – Hiệu trưởng trường THCS Lao Bảo.         

        Ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong công tác quản lý và dạy học là một nhiệm vụ trọng tâm, rất quan trọng và có tác dụng nâng cao hiệu quả công tác quản lý và dạy học. Thực hiện Chỉ thị số 47/2008/CT-BGDĐT ngày 13/8/2008 về nhiệm vụ trọng tâm của năm học 2008 - 2009 và Chỉ thị số 55/2008/CT-BGDĐT ngày 30/9/2008 về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT trong ngành giáo dục giai đoạn 2008-2012 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Trường THCS Lao Bảo đã có kế hoạch chi tiết về việc triển khai thực hiện chủ đề năm học 2008-2009 -  Năm học “đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý và dạy học”. Trong phạm vi báo cáo tham luận, tôi xin nêu tóm tắt những việc đã làm, kết quả đạt được, bài học kinh nghiệm và những kiến nghị đề xuất sau khi thực hiện chủ đề năm học qua như sau:

    I-NHỮNG VIỆC ĐÃ LÀM VÀ KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC:

    Trường THCS Lao Bảo là một trong những trường sớm đưa Tin học vào giảng dạy và ứng dụng CNTT trong quản lý và dạy học (đưa tin học vào giảng dạy trong trường từ năm 1995, bắt đầu ứng dụng CNTT trong quản lý và dạy học từ năm 1998). Như vậy sau 10 năm tổ chức thực hiện việc ứng dụng CNTT trong quản lý và dạy học, trường đã có những kết quả cụ thể:           

      1- Xây dựng các điều kiện để ứng dụng CNTT:

    a)- Bồi dưỡng về trình độ tin học và kỷ năng sử dụng máy tính cho CBGV và nhân viên của trường:

    - Xác định đội ngũ có vai trò quyết định sự thành bại của việc ứng dụng CNTT, trong thời gian qua trường chúng tôi đã chủ động xây dựng kế hoạch và quy trình triển khai thực hiện việc bồi dưỡng đội ngũ về Tin học. - Bồi dưỡng thông qua hoạt động của Câu Lạc bộ Tin học, tổ chức sinh hoạt định kỳ hàng tháng; Các chuyên đề mới, khó có thể tổ chức tập huấn dài ngày. Bồi dưỡng theo nhu cầu và khả năng của từng nhóm giáo viên. (Cách làm như TTHTCĐ - “cần gì học nấy”).

    - Phối hợp với Trung tâm HNDN để dạy Tin học cho toàn thể CBGV của các trường trên địa bàn, đã phấn đấu có 100% CBGV-NV dưới 50 tuổi đều có chứng chỉ A,B tin học.          

    - Đào tạo lực lượng nồng cốt cho từng nội dung riêng biệt. Do Tin học là lĩnh vực rất rộng lớn, mỗi CBGV không thể đi sâu vào mọi nội dung vì vậy cần có đào tạo lực lượng cốt cán trong trường .

    -  Kết quả về trình độ và kỷ năng của CBGV: 100%CBGV và nhân viên của trường đều có thể sử dụng thành thạo máy tính và các phần mềm liên quan để ứng dụng vào lĩnh vực công tác của mình. Đội ngũ của trường còn có vai trò nòng cốt chi viện, hỗ trợ nhiều trường khác trên lĩnh vực ứng dụng CNTT.

    b)- Đầu tư mua sắm máy tính và các trang thiết bị cần thiết phục vụ nhu cầu ứng dụng CNTT trong trường học:- Máy tính và thiết bị tin học là điều kiện cơ bản, không thể thiếu khi ứng dụng CNTT, đòi hỏi phải đầu tư kịp thời, tương đối đầy đủ và hiện đại, tạo điều kiện tốt nhất cho CBGV có thể thực hiện nhiệm vụ của mình. Trường THCS Lao Bảo sau nhiều năm đầu tư theo hướng “từng bước, hiện đại, từ nhiều nguồn” nên đã có được một kết quả  tương đối đảm bảo các điều kiện thiết yếu cho CBGV và học sinh tham gia học tập, ứng dụng CNTT trong quản lý, giảng dạy và học tập, hiện nay chúng tôi có được một số máy tính và thiết bị như sau:

    Các loại máy móc, thiết bị Số lượng Ghi chú
    Máy tính để làm việc 08 Lãnh đạo; VP,TV, TB, KT, Đoàn Đội mỗi bộ phận đều có  1 máy tính.
    Máy tính dùng chung tại thư viện 04  
    Máy tính để GV giảng dạy trên lớp học 04 Trong đó Laptop: 03 cái.
    Máy tính để HS thực hành 32  
    Cộng Máy vi tính: 48  
    Máy in 03  
    Máy chiếu Projector 03  
    TV màn hình rộng 34 inch kết nối MT 02  
    Máy quét ảnh (Scaner ) 01  
    Máy chụp ảnh KTS 01  
    Camera KTS 01  
    Số MT kết nối mạng LAN và Internet qua cổng ADSL 36 Trong đó có 04 máy kết nối Wireless (không dây) cho các máy tính dạy trên lớp.
    Số CBGV có máy tính riêng ở nhà và đã kết nối Internet. 38/48 79%

                - Ứng dụng CNTT không chỉ cần riêng máy tính mà cần rất nhiều loại thiết bị khác (máy chiếu, máy quyét, máy ảnh KTS, Camera KTS…) cũng như điều kiện về kỹ thuật (ổn áp, nguồn điện…). Nếu đầu tư không đồng bộ sẽ không đạt hiệu quả. 

    c)- Xây dựng kho tư liệu điện tử, khai thác tư liệu phục vụ việc ứng dụng CNTT:

    Bên cạnh đội ngũ, máy móc thiết bị, thì kho “tư liệu điện tử” là nội dung không thể thiếu trong quá trình ứng dụng CNTT. Thiết kế một bài giảng điện tử hoặc ứng dụng CNTT trong các hoạt động giáo dục đòi hỏi tư liệu rất phong phú, phái có quá trình tìm kiếm hoặc tạo dựng rất công phu. Vì vậy nhà trường đã chung sức xây dựng kho tư liệu dưới nhiều hình thức: ·     

    - Mỗi cá nhân đều có “Kho tư liệu” riêng của bộ môn mình (Nếu GV không có máy riêng thì trường cho phép để tại máy của trường)·        

    - Thư viện Nhà trường  có “kho tư liệu chung” của trường qua hai hình thức lưu trử:

          + Kho tư liệu điện tử: Hiện nay “kho tư liệu” điện tử của trường có tới gần 20G, chứa đựng những tư liệu cần thiết, ngân hàng đề kiểm tra... giúp cho CBGV dùng để thiết kế bài giảng, tổ chức các hoạt động giáo dục.

            + Tủ sách điện tử của trường có trên 300 băng đĩa, bao gồm các loại sách giáo khoa, sách tham khảo, tài liệu, phần mềm ứng dụng... là nơi cung cấp các tư liệu đáng tin cậy cho CBGV. ·         Xây dựng trang Web của trường và của các tổ chức, cá nhân trong trường có đủ thông tin và tư liệu cần thiết.·         Ngoài ra, CBGV đã  tích cực khai thác tư liệu trên các trang web của ngành, Trang Violet của các trường khác và của cá nhân CBGV trong toàn ngành để tạo thêm tư liệu phong phú trong việc thiết kế bài giảng điện tử hoặc ứng dụng CNTT trong các hoạt động giáo dục.            

     2- Tổ chức ứng dụng trong công tác quản lý và dạy học:

    a)- Ứng dụng trong công tác quản lý:

    a.1- Tuỳ theo nội dung công việc, nhà trường đã chủ động mua hoặc tìm kiếm, xây dựng các phần mềm đưa vào sử dụng mang lại hiệu quả thiết thực trong công tác quản lý chỉ đạo. Những năm qua, chúng tôi đã sử dụng tốt các phần mềm sau: 

    Loại phần mềm Nguồn cung cấp Hiệu quả sử dụng
    1- Phần mềm lập TKB Công ty Công nghệ tin học nhà trường. Khá
    2- Phần mềm phổ cập Đ/c Trần Mừng – PGD Triệu Phong Tốt.
    3- Phần mềm QL Thư viện Trường tự xây dựng Tốt
    4- Phần mềm QLHS Sở GD&ĐT cung cấp Khá
    5- Phần mềm QL tài chính Phòng Tài Chính cung cấp Khá
    6- Thống kê GD EMIS Của Bộ Giáo dục &Đào tạo. Tốt
    7- Các phần mềm trộn đề K.tra Tải miển phí trên mạng Internet. Tốt

     - Riêng phần mềm quản lý thư viện được công nhận là đề tài cấp Huyện, được phổ biến và tập huấn cho các trường trên địa bàn ứng dụng rộng rãi, đem lại hiệu quả trong  công tác quản lý thư viện. 

    a.2- Xây dựng các hệ thống tin học hoá quản lý hành chính, phục vụ trực tiếp công tác quản lý, thống kê, báo cáo. đồng thời xây dựng hoàn chỉnh và thống nhất áp dụng các chương trình ứng dụng phục vụ quản lý, điều hành (thư tín điện tử, gửi nhận văn bản điện tử, quản lý học sinh, quản lý cán bộ-công chức, Quản lý tài chính, Quản lý tài sản, thư viện, thiết bị ...).

    a.3- Tin học hoá các hoạt động chuyên môn-nghiệp vụ, các dịch vụ công, để nâng cao hiệu quả thực hiện các hoạt động như:  Công tác Phổ cập, công khai việc quản lý điểm của học sinh, xây dựng ngân hàng đề kiểm tra, xây dựng  kho tư liệu điện tử dùng chung, quảng bá các bộ giáo án tốt, Lập diễn đàn trao đổi kinh nghiệm giáo dục - dạy học, Trao đổi thông tin giữa nhà trường và gia đình….thông qua trang thông tin điện tử của trường và các trang Web  cá nhân của CBGV trong trường.

    b)- Ứng dụng trong công tác giảng dạy và tổ chức các hoạt động giáo dục: 

    b.1- Cán bộ Giáo viên của trường đã sử dụng máy tính và các phần mềm hỗ trợ dạy học nên trong những năm qua đã ứng dụng nhiều trên các lĩnh vực: Soạn giảng bằng giáo án điện tử (riêng năm học qua đã tổ chức giảng dạy bằng giáo án điện tử trên 1.700 tiết), tổ chức các hoạt động: Ngoại khoá, Hội thi, Hội diễn, phục vụ các diễn đàn, các buổi tập huấn... đem lại hiệu quả công tác và giáo dục rất tốt; đồng thời CBGV của trường là lực lượng nòng cốt giúp địa phương ứng dụng CNTT để tổ chức tốt các hoạt động tuyên truyền trên địa bàn.          

    b.2- Một số phần mềm đã ứng dụng trong giảng dạy và các hoạt động giáo dục:             

    + Để phục vụ giảng dạy hoặc tổ chức các hoạt động giáo dục, CBGV của trường đều sử dụng phần mềm trình chiếu Powerpoint và Violet.           

    + Nhưng để có được các bài giảng phong phú, đáp ứng yêu cầu các hoạt động khác thì CBGV đã sử dụng thêm nhiều phần mềm ứng dụng được miễn phí trên mạng Internet như: Phần mềm dạy học các môn học: Toán, Lý, Hoá, Âm nhạc...; phần mềm Flash; các phần mềm cắt, ghép hoặc chuyển file các đoạn phim, ảnh phục vụ yêu cầu bài dạy...           

    + Tất cả giáo viên đều sử dụng thành thạo phần mềm trộn đề kiểm tra trắc nghiệm để hạn chế những tiêu cực trong kiểm tra.

    b.3- Tổ chức, quản lý việc  dạy học  tin học ở trường : Tổ chức các loại hình dạy Tin học trong Nhà trường cho học sinh và cán bộ, nhân dân trên địa bàn phù hợp với tình hình mới.

    + Các lớp 8 sẽ học tự chọn môn Tin học. nhưng dạy thêm chương trình nghề để có thể hoàn thành chương trình nghề phổ thông, cuối năm học sẽ thi tốt nghiệp nghề.           

    + Một số lớp khác, nhà trường đã chọn một số lớp học tin học theo chương trình của Bộ Giáo dục (Như một môn học chính khoá khác).

    + Các lớp tin học dành cho Cán bộ và nhân dân ở địa phương (theo kế hoạch của trung tâm học tập cộng đồng thị trấn )            

    + Nhà trường đang phấn đấu trong những năm tới 100% học sinh ở tất cả các khối lớp đều được học theo đúng chương trình của Bộ Giáo dục. khi có đủ Giáo viên và Phòng thực hành. 

    c.4- Tổ chức các hoạt động nhằm kích thích sự đam mê học tập tin học cho CB,GV & HS và khuyến khích việc đẩy nhanh tiến độ thực hiện kế hoạch “đẩy mạnh ứng dụng CNTT…”:

    - Đối với CBGV: Phát động phong trào thi đua thực hiện chủ đề năm học với các nội dung thi đua cụ thể, thiết thực; cuối năm có đánh giá, khen thưởng:           

         + Thi đua xây dựng kho tư liệu điện tử của từng các nhân, từng môn học.           

         + Thi đua giảng dạy bằng bài giảng điện tử.           

         + Thi đua xây dựng nội dung trang Web của trường, lập trang Web riêng của từng các nhân.+ Tổ chức Hội thi thiết kế giáo án điện tử trong mỗi học kỳ của năm học.          

        + Đưa nội dung Tin học vào phần kiểm tra nghiệp vụ của Giáo viên.- Đối với Học sinh:                        + Chú trọng việc bồi dưỡng và tổ chức thi Học sinh giỏi Tin học cho HS hằng năm;         

       + Cho học sinh tự thu thập tư liệu, quay phim, chụp ảnh… về  các chủ đề cần thiết, sau đó  tổ chức cho học sinh hội thi thuyết trình, hùng biện, diễn đàn trao đổi (có trình chiếu minh hoạ các nội dung) để phát huy được tính tích cực chủ động của học sinh.                       

        + Tuyên truyền vận động học sinh học tập qua mạng (Giải toán trên Internet và các hình thức học tập khác) 

    II- BÀI HỌC KINH NGHIỆM:Tóm lại, những năm qua trường THCS đã có nhiều cố gắng trong việc ứng dụng CNTT trong công tác quản lý và dạy học và  bước đầu mang lại hiệu quả thiết thực và chúng tôi rút ra bài học kinh nghiệm:

    1- Đội ngũ ở trường miền núi như chúng ta ít được ổn định, hàng năm phải làm nhiệm vụ luân chuyển CBQL và GV cho vùng bản, nhiều GV được bồi dưỡng trưởng thành lại hết nhiệm vụ miền núi, chuyển đến vùng thuận lợi; nhiều CBGV cốt cán được điều động chi viện nơi khác; Do vậy công tác bồi dưỡng CBGV và nhân viên nói chung, đặc biệt là việc bồi dưỡng kỷ năng sử dụng máy tính và ứng dụng các phần mềm vào lĩnh vực công tác là việc làm thường xuyên liên tục. 

     2- Việc xây dựng ba điều kiện trên (Bồi dưỡng đội ngũ, mua sắm máy móc thiết bị và xây dựng kho tư liệu) phải tiến hành đồng thời, liên tục. Bởi chỉ lo mua sắm máy móc thiết bị, không chăm lo bồi dưỡng đội ngũ thì không sử dụng thiết bị, ngược lại bồi dưỡng đội ngũ mà không có máy móc thì không thể bồi dưỡng được. Đội ngũ được bồi dưỡng tốt sẽ sử dụng thiết bị đúng kỹ thuật, tăng tuổi thọ thiết bị và hiệu quả  công tác. Khi ứng dụng có hiệu quả, đội ngũ sẽ ham mê học tập…Như vậy mối quan hệ của ba điều kiện để ứng dụng CNTT là mối quan hệ biện chứng.

     3- Quá trình ứng dụng là quá trình thực hiện đồng bộ các hoạt động: Vừa bồi dưỡng đội ngũ, vừa đầu tư mua sắm thiết bị, vừa xây dựng, bổ sung kho tư liệu ( đó chính là xây dựng những điều kiện) và tổ chức ứng dụng trên mọi lĩnh vực quản lý và giảng dạy để nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác (là mục đích). Do vậy các hoạt động trên đều có quan hệ giữa mục đích và phương tiện, nó thúc đẩy nhau cùng phát triển. Chúng ta không thể chờ đợi có đủ điều kiện mà điều kiện đó chúng ta phải chủ động tạo dựng nên; khi có điều kiện chúng ta dễ đạt mục đích hơn thì tự nhiên mọi người sẽ hăng say tạo dựng các điều kiện tốt hơn… 

    III- NHỮNG KIẾN NGHỊ.           

     Quá trình thực hiện và ứng dụng CNTT trong nhà trường bộc lộ những mâu thuẩn nãy sinh, nhứng khó khăn lớn; chúng tôi kiến nghị với Ngành và Huyện những nội dung sau:

    1-      Về đội ngũ: Hiện nay biên chế GV tin học để làm nòng cốt cho các trường rất thiếu, một số trường đã có GV tin học nhưng năng lực không đáp ứng yêu cầu. Trong lúc đó trình độ tin học của CBGV nói chung chưa theo kịp yêu cầu của việc “đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT”.  Đề nghị :

    • Có kế hoạch tăng biên chế giáo viên Tin học cho các trường học, chủ động bồi dưỡng CBQL và GV về kỷ năng sử dụng máy tính và ứng dụng các phần mềm liên quan mới có thể đáp ứng yêu cầu như hiện nay.
    • Tại các trường, giáo viên tin học phải tham gia giảng dạy với số lượng tiết như một giáo viên của môn khác, trong lúc đó thường phải quản lý phòng thực hành tin học và tham gia trực tiếp các hoạt động về ứng dụng CNTT nên rất vất vã. Đề nghị Sở Giáo dục xem xét lại để có sự thống nhất việc định mức Lao động của những công việc trên.
    • Tuyển mới Giáo viên và nhân viên ở các trường nên chăng cần có chính sách ưu tiên cho những người có trình độ về tin học và ngoại ngữ. Hoặc bổ sung nội dung Tin học vào chương trình đào tạo Giáo viên và nhân viên.

    2-      Điều kiện về máy móc, thiết bị: Các bậc học trực thuộc Huyện hiện nay rất thiếu, mặc dù nhiều trường đã chủ động mua sắm thêm nhưng do nghèo, phải mua sắm dần trong nhiều năm nên máy móc, thiết bị không đồng bộ, tạo nên khó khăn không nhỏ trong việc ứng dụng CNTT. Đề nghị cấp trên quan tâm hơn đối với các trường trong việc đầu tư trang thiết bị để ứng dụng CNTT.

    3-      Có kế hoạch chỉ đạo, tổ chức và giúp đỡ cho các trường thực hiện và ứng dụng  CNTT một cách thống nhất. Cụ thể:- Có biện pháp bắt buộc ứng dụng hệ thống Email quản lý giáo dục cho các trường, giáo viên, học sinh có tên miền chung theo quy định của Bộ Giáo dục - Hướng dẫn và chỉ đạo thống nhất việc khai thác sử dụng và dạy học bằng mả nguồn mở như Chỉ thị 55/CT-BGD&ĐT ngày 30/9/2008 của Bộ Giáo dục và đào tạo (Sử dụng bộ phần mềm văn phòng, hệ điều hành, trình duyệt Web, bộ gõ...)

    4-      Cần có cơ chế để sử dụng được các thành tựu của công nghệ trong công tác quản lý và dạy học:- Cho phép được báo cáo, chuyển phát công văn, tài liệu…từ cấp trường đến Phòng GD&ĐT đến Sở GD&ĐT và ngược lại qua Email (vừa nhanh, vừa tiết kiệm); tất nhiên trừ các nội dung mang tính pháp lý cao cần có đóng dấu và chữ ký).- Ứng dụng phần mềm QLHS như chúng ta đã sử dụng trong những năm qua chỉ mới giúp người quản lý nhưng người GV phải thêm việc chứ chưa giúp họ được gì thêm vì bên cạnh phải nhập điểm vào máy thì GV phải ghi điểm vào sổ, phải ghi học bạ, trong lúc đó phần mềm có thể in sổ điểm và học bạ học sinh…đồng thời cần cải tiến phần mềm QLHS sao cho quản lý và nhập điểm qua mạng Internet.


    Nhắn tin cho tác giả
    Hoàng Phú Đức @ 10:58 18/08/2009
    Số lượt xem: 1203
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến